Tìm hiểu về văn hóa trà đạo của Nhật Bản (P1)

0

Bạn đã từng nghe đến văn hóa trà đạo của người Nhật Bản chưa? Một cách vắn tắt nhất để bạn hiểu về ý nghĩa đích thực của “Trà đạo” đó là sự hoà hợp giữa con người với thiên nhiên qua thao tác pha và uống trà. Để tìm hiểu kĩ hơn về văn hóa này, mời bạn cùng theo dõi bài viết dưới đây.

1. Trà đạo có từ khi nào?

Trà đạo có nguồn gốc từ đất nước Trung Hoa. Có thể nói, đây là quốc gia châu Á có nền văn minh lớn ảnh hưởng đến cả khu vực. Do vậy, trong một thời gian dài, Nhật Bản cổ xưa cũng nằm trong khối ảnh hưởng này.

Khởi đầu, người Trung Hoa đã dùng trà làm thuốc để chữa trị một số bệnh. Sau đó, nó phát triển và trở thành một thức uống đặc biệt. Mặc dù trà Trung Quốc cũng có những gắn kết trong đời sống văn hóa của dân tộc nhưng để nâng việc uống trà thành một nghi lễ của sự thưởng thức thì điều đó chỉ có được trên đất Phù Tang.

Vào thế kỉ thứ VI, tri thức về các loại trà và sản xuất trà truyền từ Trung Quốc sang Nhật Bản cùng với mỹ thuật và Phật giáo. Năm 805, uống trà đã trở thành nét văn hóa độc đáo của người Nhật.

Do được phổ biến theo chân các nhà sư nên trà đạo Nhật Bản mang đậm phong cách của Thiền. Có thể kể đến nhà sư Murata Juko là người đã tìm thấy vẻ đẹp giản dị trong văn hóa uống trà, ông coi trọng cuộc sống tinh thần và yêu cái đẹp “wabi” và “sabi” – vẻ đẹp giản dị, thanh sạch không vướng bụi trần được xem là tinh thần chủ yếu trong việc thưởng trà.

Tìm hiểu về văn hóa trà đạo của Nhật Bản (P1)

2. Trà với cuộc sống

Từ xưa tới nay, uống trà là một sinh hoạt hàng ngày của nhiều dân tộc trên thế giới. Uống trà không những có lợi cho sức khỏe mà còn là một thú vui tinh thần khi ngồi yên lặng nhâm nhi chén trà, ngẫm nghĩ về cuộc sống nhân sinh. Dần dần, việc thưởng trà trở thành một cách thức giúp con người trở lại với bản tính tự nhiên của mình. Đó là chính là Trà đạo.

Tinh thần của trà đạo được biết đến qua bốn chữ “Hòa, kính, thanh, tịch”.

“Hòa” có nghĩa hài hòa, hòa hợp, giao hòa. Đó là sự hài hòa giữa trà nhân với trà thất, sự hòa hợp giữa các trà nhân với nhau, sự hài hòa giữa trà nhân với các dụng cụ pha trà.

“Kính” là lòng kính trọng, sự tôn kính của trà nhân với mọi sự vật và con người, là sự tri ân cuộc sống. Lòng kính trọng được nảy sinh khi tinh thần của trà nhân vươn tới sự hài hòa hoàn toàn.

Khi lòng tôn kính với vạn vật đạt tới sự không phân biệt thì tấm lòng trở nên thanh thản, yên tĩnh. Đó là ý nghĩa của chữ “Thanh”.

Khi lòng thanh thản, yên tĩnh hoàn toàn thì toàn bộ thế giới trở nên tịch lặng, dù sống giữa muôn người cũng như sống giữa nơi am thất vắng vẻ tịch liêu. Lúc đó, thế giới với con người không còn là hai, mà cả hai đều vắng bặt. Đó là ý nghĩa của chữ “Tịch”.

Bốn chữ “Hòa, Kính, Thanh, Tịch” như một thước đo bản thân vị trà nhân đang ở vị trí nào trên con đường Trà đạo.

Tìm hiểu về văn hóa trà đạo của Nhật Bản (P1)

Tham khảo thêm: Những điểm trừ của du học sinh Việt Nam tại môi trường quốc tế.

Vậy thì “Trà đạo là gì?”, đã có ai trong những người quan tâm đến trà đạo chúng ta đã từng đặt câu hỏi này cho mình hay chưa.

Để trả lời cho câu hỏi này, chúng ta cùng đi từ quá trình hình thành của trà đạo cho đến các dụng cụ được sử dụng trong pha trà; từ trà thất cho đến cách pha trà; từ cách phục vụ trà cho đến cách uống trà… Tất cả làm nên việc thưởng trà của chúng ta được sống động và trọn vẹn.

3. Nguyên liệu và dụng cụ pha trà

Trà: tùy theo hệ phái nào mà trà được sử dụng có sự khác biệt.

Maccha (まっちゃ): trà bột. Người ta hái những lá trà non đem đi rửa sạch, phơi ráo nước và xay nhuyễn thành bột. Vì thế trà có màu xanh tươi và độ ẩm nhất định chứ không khô như các loại trà lá. Khi uống, bột trà được đánh tan với nưới sôi.

Trà nguyên lá: chỉ lấy nước tinh chất từ lá trà. Lá trà được phơi khô, pha chế trong bình trà, lấy tinh chất, bỏ xác. Thường sử dụng loại trà cho nước màu vàng tươi hay màu xanh nhẹ.

Phụ liệu: ngoài nguyên liệu chính là trà bột hay trà lá, người pha chế còn cho thêm một số thảo dược, các loại củ quả phơi khô, đậu để làm tăng thêm hương vị cho chén trà, hay quan trọng hơn là mang tính trị liệu, rất có lợi cho sức khỏe, giúp người bệnh mau hồi phục thể chất lẫn tinh thần.

Nước pha trà: thường là nước suối, nước giếng, nước mưa, hay nước đã qua khâu tinh lọc.

Ấm nước (お釜): dùng đun nước sôi để pha trà, thường được làm bằng đồng để giữ độ nóng cao.

Lò nấu nước (焜炉): bếp lò bằng đồng thường dùng than để nấu. Nhưng ngày nay người Nhật đã thay than bằng một bếp điện để bên trong lò đồng

Hũ đựng nước (水差し): dùng để đựng nước lạnh khi pha trà. 

Chén trà (茶碗): chén dùng để dựng trà cho khách thưởng thức. Chén được làm bằng men, công phu, tỉ mỉ và mỗi chén có những họa tiết độc đáo riêng. Vì thế mà trong khi làm một buổi tiệc trà, không có hai chén trà giống nhau. Các nghệ nhân làm chén cũng đưa chủ đề thiên nhiên, thời tiết vào trong tác phẩm của mình, vậy nên có thể dùng chén phù hợp cho 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông.

Tìm hiểu về văn hóa trà đạo của Nhật Bản (P1)

Không chỉ nổi tiếng với trà đạo, Nhật Bản còn được biết đến là đất nước phải hướng chịu những thiên tai nhiều nhất trên thế giới: núi lửa, sóng thần… Hãy tham khảo bài viết Ngất ngây vẻ đẹp của những ngọn núi lửa hung dữ nhất Nhật Bản để thấy được giữa những nguy hiểm rình rập ấy, người dân Nhật vẫn có thể thả tâm hồn mình theo vẻ đẹp hung dữ và hoang dại đó.

  • Mùa xuân: chén có những hoa văn mùa xuân như hoa anh đào. 
  • Mùa hạ: là mùa nóng nên chén trà có độ cao thấp hơn, miệng rộng hơn chén trà mùa xuân để dễ thoát hơi nóng.
  • Mùa thu: chén có hình dạng giống chén mùa xuân, có hoa văn đặc trưng cho mùa thu như lá phong, lá momizi.
  • Mùa đông: là mùa lạnh nên chén có độ dày và cao hơn các chén mùa khác để giữ nóng lâu hơn. Màu sắc của men cũng mang gam màu lạnh.

Kensui (建水): chậu đựng nước rửa chén khi pha trà, được làm bằng men và to hơn chén trà một chút. 

Hũ, lọ đựng trà (なつめ): hủ,lọ dùng để đựng trà bột, được trang trí họa tiết rất đẹp, gần gũi với cuộc sống sinh hoạt nhưng cũng mang tính thẫm mĩ cao. Trên nắp hũ, đôi khi bắt gặp hình quạt giấy, hình hoa lá, tre, trúc,…

Khăn fukusa (ふくさ): khăn lau hủ,lọ trà và muỗng trà khi pha trà.

Khăn chakin (茶巾): khăn lau chén trà khi pha trà, được làm bằng vải mùng màu trắng.

Khăn kobukusa (こぶくさ): khăn dùng để kê chén trà. Khi đem trà cho khách thưởng thức, dùng khăn để lên tay, sau đó đặt chén trà lên để giảm bớt độ nóng từ chén trà xuống tay, sau đó mang chén trà cho khách.

Muỗng múc trà (茶杓): chiếc muỗng bằng tre, dài, một đầu uốn cong để múc trà.

Gáo múc nước: chiếc gáo bằng tre, nhỏ, dài để múc nước từ trong ấm nước, hủ đựng nước ra chén trà.

Cây đánh trà (茶筅): dùng để đánh tan trà với nước sôi. Được làm từ tre, ống tre được chẻ nhỏ một đầu thành nhiều cọng tre có kích thước nhỏ khoảng 1mm. 

Bình trà: để pha trà lá 

Tách trà nhỏ: để thưởng thức loại trà lá.

 

 

 

Chia sẻ.

Chức năng bình luận đã bị đóng