Tàu cao tốc Shinkansen – niềm tự hào của Nhật Bản

0

Tàu cao tốc Shinkansen không chỉ tốc độ di chuyển nhanh, độ an toàn gần như tuyệt đối, sự chuyên nghiệp của đội ngũ nhân viên vận hành… Tất cả tạo nên niềm tự hào của người dân Nhật Bản về tàu Shinkansen.

Nội dung chính trong bài:

  1. Ra đời
  2. Hơn 50 năm hoạt động
  3. Biểu tượng
  4. Sự an toàn
  5. Chuyên nghiệp
  6. Sự cạnh tranh
  7. Tuyến tàu
    7.1. Tokaido Shinkansen
    7.2. Sanyo Shinkansen
    7.3. Tohoku Shinkansen
    7.4. Joetsu Shinkansen
    7.5. Hokuriku Shinkansen
    7.6. Kyushu Shinkansen
    7.7. Hokaido Shinkansen

Tàu cao tốc Shinkansen – một trong những phương tiện di chuyển đường dài chính thức của người dân Nhật Bản. Số lượng người sử dụng hàng ngày cao vượt trội so với những phương tiện giao thông thông thường khác. Ngoài ra còn rất nhiều chỉ số khác về tàu Shinkansen khiến nó trở thành biểu tượng của Nhật Bản.

1. Nguyên nhân ra đời của tàu cao tốc Shinkanse

Trong suốt thời kỳ Minh trị, Nhật Bản đã thuê nhiều kỹ sư nước ngoài cũng như nhận vốn của Phương Tây để tiếp thu những công nghệ mới nhất nhằm phát triển đất nước. Đây là lý do hệ thống tàu hỏa của nước này đi trước nhiều nước trong thời kỳ tiền Thế chiến II.

Đến thập niên 1930, tuyến đường sắt đầu tiên nối Tokyo với các thành phố như Nagoya, Kyoto, Osaka và Kobe đã bị tắc nghẽn nặng do quá tải.

Trước tình hình đó, chính phủ Nhật Bản đã phải tìm giải pháp nhằm cải thiện giao thông để có thể phát triển kinh tế. Quá trình này tuy bị gián đoạn sau cuộc Thế chiến II nhưng đã được chính quyền Tokyo lên kế hoạch ưu tiên ngay sau khi tái thiết đất nước.

Về ý tưởng tàu cao tốc, chúng đã được tổng công trình sư Hideo Shima và Chủ tịch công ty đường sắt quốc gia Nhật Bản (JNR) đầu tiên, ông Shinji Sogo đề cập và thảo luận từ thập niên 1930. Tất cả các bản phác thảo và kế hoạch được xây dựng trong những năm tháng Thế chiến II.

Shinkansen là một khái niệm hoàn toàn mới do người Nhật đưa ra vào khoảng những năm 40 của thế kỉ trước. Vào thời điểm đó, chính phủ Nhật đã thông qua dự án thành lập tuyến đường nối Tokyo và Osaka với tham vọng giảm thời gian đi hết khoảng cách 550 km từ 7 tiếng xuống còn 4 tiếng. Đây là thời điểm từ “Shinkansen” bắt đầu xuất hiện tại Nhật Bản. Dự án này có tên Shinkansen cũng bởi mang một ý nghĩa khác, đó là tuyến đường sắt mới với hệ thống toàn tuyến đều dùng điện.

Tàu cao tốc Shinkanse đầu tiên của Nhật Bản

Để có thể thực hiện được dự án này, Nhật Bản đã phải gửi các kỹ sư sang Pháp hay Đức để học hỏi kỹ thuật xây dựng đường ray khổ 1.435 mm của phương Tây. Trước đó, Nhật Bản sử dụng đường ray khổ hẹp 1.067 mm. Bên cạnh đó, chính phủ Nhật Bản cũng phải phải nhập khẩu một số bộ phận chính của Đức hay Pháp lắp ráp vào các loại xe điện bình thường.

Nước Nhật đã mất hơn mười năm để chuẩn bị, phải đến tận những năm đầu thập niên 50 của thế kỷ XX, họ mới chính thức tự làm chủ toàn bộ thiết kế, kỹ thuật của toa tàu điện bình thường, kỹ thuật điện áp và kỹ thuật đường ray mà không còn phụ thuộc vào phương Tây.

Ba thương hiệu công nghiệp của Nhật Bản là Hitachi, Kawasaki và Mitsubishi là ba hãng chế tạo chính các đầu xe bên cạnh một số công ty khác của ngành đường sắt.

Năm 1957, Nhật đã nâng tốc độ của tàu điện lên 145 km/h và chỉ đến 2 năm sau, tốc độ tiếp tục được cải thiện lên 163 km/h.

2. Lịch sử hơn 50 năm – chưa một lần trễ hẹn

Nếu như ở Việt Nam, các loại phương tiện giao thông thường xuyên có hiện tượng trễ, hủy chuyến, thì tàu cao tốc Shinkansen tự hào chưa từng có 1 lần trễ hẹn, dù đã hoạt động liên tục hơn 50 năm.

Theo thống kê của bộ giao thông vận tải Nhật Bản, Từ khi bắt đầu hoạt động (1964) đến nay (6 tháng đầu năm 2018), tuyến đường sắt dành cho tàu Shinkansen chưa xảy ra một vụ tai nạn giao thông nào. Thời gian trễ chuyến trung bình chỉ khoảng 36 giây, trong khi đã vận chuyển hơn 10 tỷ lượt hành khách.

Tàu cao tốc Shinkanse luôn đảm bảo sự đúng giờ

Shinkansen có một hệ thống kiểm soát tự động (ATC) hoạt động hiệu quả. Năm 2003, một nhân viên lái tàu đã ngủ gật trong khi đang vận hành chiếc Shinkansen chạy với vận tốc 275 km/giờ, chở 800 hành khách, tuy nhiên con tàu này đã tự động dừng lại ở ga Okayama.

Shinkansen cũng nổi tiếng thế giới với sự đúng giờ. Thống kê cho thấy với hơn 200 nghìn chuyến Shinkansen trên tuyến Tokaido mỗi năm, tỷ lệ Shinkansen đến bến không sai một giây nào lên đến 96,1%.

3. Biểu tượng của Nhật Bản

Suốt hơn 50 năm hoạt động, tàu cao tốc Shinkansen đã nhanh chóng trở thành biểu tượng cho sự chuyển mình của Nhật thời hậu thế chiến. Shinkansen đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế, giao lưu văn hóa, xã hội Nhật và cũng trở thành một biểu tương của công nghệ Nhật Bản.

Ban đầu, khi tốc độ trung bình của tàu Shinkansen là 210 km/h, đây được coi là bước đột phá trong công nghệ đường sắt lúc bấy giờ. Tuy rằng hiện nay tàu TGV của Pháp và tàu ICE của Đức chạy nhanh hơn, nhưng Shinkansen vẫn khiến thế giới phải kính nể.

Tàu cao tốc Shinkanse - Biểu tượng của Nhật Bản

Các kỹ sư chế tạo tàu cao tốc Nhật Bản luôn tìm cách để cải thiện tốt hơn cho loại phương tiện này.

Từ tốc độ trung bình ban đầu hơn 100km/h, tốc độ tàu Shinkansen được cải thiện dần lên 153km/h, rồi lên hơn 160km/h sau đó, vài năm sau đó nâng tốc độ tối đa lên 300km/h. Hiện nay những chuyến tàu thương mại E5 có thể đạt tốc độ 320 km/h như đoạn đường giữa thị trấn Utsunomiya và Morioka trên tuyến Tohoku Shinkansen. Tốc độ thử nghiệm đạt 443 km/h cho loại tàu thường vào năm 1996. Còn đối với tàu maglev thì là 581 km/h, phá Kỷ lục thế giới vào năm 2003.

Vào năm 2015, công ty vận tải đường sắt JR Tokai, Nhật Bản đã công bố kết quả chạy thử nghiệm tuyến tàu cao tốc thế hệ mới nhất Linear với vận tốc 603 km/giờ. Để có thể thực hiện được điều này, tàu Shinkansen Linear được sử dụng nguyên lý Maglev (đệm từ trường). Nếu công nghệ được cải tiến thì đoàn tàu này có thể đạt tốc độ 700 km/h vào năm 2027.

Các công ty phát triển hệ thống tàu cao tốc Shinkansen tại Nhật không quá chú trọng về phát triển tốc độ tàu, họ đặt vấn đề an toàn lên trên hết. Mỗi khi có mẫu thiết kế tàu tăng thêm 20 – 30km/h, khả năng an toàn của mẫu tàu đó cũng được đảm bảo tăng thêm vài lần so với bản cũ.

Hiện nay tàu cao tốc Shinkansen có độ phủ khá lớn tại Nhật Bản, các tuyến đường sắt phục vụ tàu Shinkansen đã đi qua hầu hết các tỉnh đất nước này, chủ yếu là các tỉnh phía Đông.

Nếu là người yêu sự sôi động trong lễ hội, nhất là các lễ hội mùa thu nhật bản, hay các lễ hội mùa hè nhật bản, đi tàu shinkansen sẽ là một lựa chọn tốt cho lịch trình của mình. Bạn vừa không tốn nhiều thời gian khi di chuyển, lại vừa được ngắm cảnh thiên nhiên 1 bên đường qua cửa kính đoàn tàu.

Tốc độ của tàu Shinkansen Linear

4. Tuyến đường sắt an toàn nhất thế giới

Hơn 50 năm lịch sử từ ngày bắt đầu được đưa vào hoạt động, tuyến tàu tốc hành Shinkansen chưa từng bị một vết nhơ nào về việc gây án mạng trong quá trình di chuyển.

Có lẽ không ngoa khi nói rằng tàu siêu tốc Shinkansen là phương tiện giao thông duy nhất của loài người chưa từng xảy ra bất kỳ tai nạn gây thương tích hay chết chóc nào cho hành khách trong lịch sử hoạt động. Ngay cả việc tàu đang chạy với tốc độ 200 km/h và gặp động đất bất ngờ dẫn đến việc trật đường ray năm 2004 cũng không hề có bất kỳ hành khách nào bị thương do hệ thống dừng tự động và công nghệ thăng bằng trên Shinkansen hoạt động quá hoàn hảo.

Trong lịch sử Shinkansen, chỉ có duy nhất một sự kiện liên quan đến nhân mạng. Đó là ngày 27/12/1995, một nam sinh trung học 17 tuổi đã bị chết tại nhà ga Mishima.

Ban đầu, đoàn tàu Kodama 475 đi từ Tokyo đến Nagoya và dừng ga Mishima khoảng ba phút. Nam sinh này đã ra khỏi tàu để đến trạm điện thoại công cộng gọi cho gia đình. Do không để ý đến thời gian, khi có tiếng báo hiệu tàu sắp chạy thì thanh niên này mới gấp gáp đuổi theo. Cửa tự động lúc này đã được đóng kín lại nhưng thanh niên này vẫn cố gắng kẹp ngón tay vào nhằm mở ra. Hậu quả là thanh niên này bị kéo khoảng 160 m từ lúc tàu lăn bánh đến lúc nhân viên nhà ga phát hiện ra và nhấn nút thắng khẩn cấp, đầu bị đập xuống đường ray và tử vong tại chỗ.

Sự kiện này đáng lẽ đã trở thành vết nhơ duy nhất về độ an toàn của Shinkansen. Tuy nhiên, khi các nhà điều tra vào cuộc và kiểm tra băng ghi hình đã kết luận lỗi thuộc về thanh niên 17 tuổi này. Vì vậy, sự việc chết người tại ga Mishima không được cảnh sát liệt vào danh sách tai nạn giao thông do phương tiện gây ra mà bị liệt vào tai nạn tự tử do con người tự gây nên. Gia đình nạn nhân cũng không thể phủ nhận kết luận này. Kỷ lục an toàn tuyệt đối của Shinkansen cũng không bị lung lay khi kết quả cuối cùng được tuyên bố.

5. Tuyệt đối tuân thủ sự chuyên nghiệp

Tàu có hai hạng ghế được đặt tại các khoang riêng. Khoang đặc biệt có ghế lớn hơn, chỗ để chân rộng rãi hơn, tương tự như hạng thương gia.

Ghế thường có kích cỡ nhỏ hơn, tương tự như hạng phổ thông trên máy bay

Tàu shinkansen có khoang đặt chỗ (reversed) và khoang tự do (non-reversed). Bạn phải xếp hàng dù lên bất cứ khoang nào. Nếu bạn đã đặt chỗ, hãy tìm đúng ghế của mình. Nếu không, hãy tìm ghế ở khoang tự do. Vé sẽ được kiểm tra và việc lên nhầm khoang hay nhầm chỗ là điều đáng xấu hổ (bạn sẽ phải chuyển chỗ hoặc trả thêm phí).

Ở Nhật Bản, việc nói chuyện điện thoại ở nơi công cộng như trên tàu bị coi là bất lịch sự. Hành khách thường được đề nghị tắt điện thoại hoặc để rung. Nếu buộc phải gọi hay nhận điện, bạn cần ra khu vực giữa các khoang tàu.

Khi tới ga cuối, tàu shinkansen sẽ được một đội dọn dẹp làm sạch trong 7 phút. Các hành khách thường đem theo rác của mình để bỏ vào túi rác của nhân viên. Việc bỏ lại rác hay xả rác bừa bãi bị coi là bất lịch sự và thiếu văn minh ở Nhật.

Cách nguời Nhật dọn dẹp vệ sinh bên trong tàu cao tóc Shinkansen chỉ cần 7 phút:

6. Chịu sự cạnh tranh của các hãng hàng không giá rẻ

Với tốc độ di chuyển nhanh, thời gian làm thủ tục cho chuyến đi ít tốn thời gian, tính an toàn tuyệt đối (tính đến hiện tại). Nhưng về giá vé thì tàu cao tốc Shinkansen đang gặp bất lợi so với giá của các hãng hàng không giá rẻ.

Ví dụ như nếu đi từ Tokyo lên Hokkaido, người tiêu dùng có thể chỉ phải trả khoảng 12.000 Yên Nhật cho vé máy bay khứ hồi giá rẻ, trong khi nếu đi bằng shinkansen, chỉ riêng giá vé một chiều đã có thể gấp 3 lần như vậy.

Hầu hết 128 triệu dân Nhật Bản tụ tập tại các khu vực đông dân cư và những tuyến tàu cao tốc này giúp họ có thể dễ dàng di chuyển, hợp tác làm ăn, du lịch với các vùng đông dân khác.

Vào năm 1987, chính phủ Nhật Bản quyết định cổ phần hóa ngành đường sắt và khác hẳn với những quốc gia khác, các công ty này lại kinh doanh khá tốt sau đó bất chấp sự cạnh tranh quyết liệt của những dịch vụ vận tải khác.

Hãng JR East, công ty đường sắt lớn nhất theo công suất vận tải thậm chí không hề nhận bất kỳ sự trợ cấp hay bảo hộ nào của chính phủ mà vẫn kinh doanh tốt, khác với các hãng đường sắt cổ phần hóa tại Pháp.

Nguyên nhân chính là JR East được quản lý toàn bộ hệ thống đường sắt, từ nhà ga cho đến những công trình hạ tầng khác, qua đó giảm thiểu sự chồng chéo. Trái ngược lại, chủ sở hữu hệ thống đường ray và các toa xe lửa là hoàn toàn khác nhau ở Anh, tạo nên sự chồng chéo trong quản lý và tốn chi phí.

Ngoài ra, JR East cũng nhanh nhạy khi cho thuê cũng như phát triển cơ sở hạ tầng tại những khu đất quanh các khu bến tàu, nhà ga nhằm gia tăng thu nhập. Khoảng 1/3 số thu nhập của JR East đến từ việc cho thuê các trung tâm thương mại, văn phòng, chung cư như vậy.

Hiện tượng này hoàn toàn trái ngược ở Anh, quốc gia có hệ thống tàu điện lâu đời nhất thế giới, khi những khu vực quanh đường tàu hỏa thậm chí không được quy hoạch hay phát triển đầy đủ để tận dụng thu nhập. Nhiều nơi có đường sắt đi qua vẫn còn khá hoang sơ.

Chính nguồn thu nhập bổ sung này đã giúp các công ty như JR East phát triển được hệ thống tàu cao tốc dù giá vé khá đắt trong khi nhiều dịch vụ như hàng không đang cạnh tranh gay gắt. Mặc dù vậy, khoảng 71% doanh thu của JR vẫn đến từ các chuyến tàu thường và những đoàn tàu cao tốc cần thêm thời gian để chứng minh vai trò của mình trong mạng lưới giao thông này.

7. Các tuyến tàu cao tốc Shinkansen hiện nay của Nhật Bản

Hiện nay tuyến tàu cao tốc Shinkansen chủ yếu phục vụ cho vùng phía Đông của Nhật Bản, chính phủ Nhật đang có kế hoạch để mở rộng sang các vùng phía Tây trong khoảng thời gian gần đây.

Các ga của tàu cao tốc Shinkansen Nhật Bản

  • Tuyến Tokyo – Osaka (Tokaido Shinkansen): Chiều dài 515,4 km, do công ty JR Central khai thác.
  • Tuyến Osaka – Hakata (Sanyo Shinkansen): Chiều dài 553,7 km, do công ty JR West khai thác.
  • Tuyến Tokyo – Aomori (Tohoku Shinkansen): Chiều dài 675 km, do công ty JR East khai thác.
  • Tuyến Omiya – Niigata (Joetsu Shinkansen): Chiều dài 269,5 km, do công ty JR East khai thác.
  • Tuyến Takasaki – Kanazawa (Hokuriku Shinkansen): Chiều dài 345,4 km, do công tyJR East và JR West khai thác.
  • Tuyến Hakata Kagoshima-Chūō (Kyushu Shinkansen): Chiều dài 256,8 km, do công tyJR Kyushu khai thác.
  • Tuyến Aomori – Hakodate-Hokuto (Hokaido Shinkansen): Chiều dài 148,9 km, do công tyJR Hokkaido khai thác.

Có 4 loại ghế ngồi trên các chuyến tàu cao tốc Shinkansen ở Nhật Bản:

  • Ghế tự do (Non-reserved seat): Đây là loại ghế ngồi có mức phí rẻ nhất, nhưng không đảm bảo chắc chắn rằng bạn sẽ có ghế ngồi.
  • Ghế chỉ định (Reserved seat): Là loại ghế có đánh số tương ứng với vé mua. Loại vé này đảm bảo bạn có chỗ ngồi cố định. Tuy nhiên giá vé đắt hơn loại tự do một chút.
  • Ghế hạng sang (Green Class): Có độ rộng ghế ngồi lớn hơn 2 loại ở trên, có trang bị ổ cắm điện đầy đủ. Giá tiền cao hơn hẳn so với loại tự do và chỉ định. Thường sẽ cao hơn từ 1000 đến 8000 Yên so với ghế tự do.
  • Ghế hạng siêu sang (Super Green Class): Đây là loại ghế chỉ dùng riêng cho JR ở Đông Nhật Bản. Loại ghế này tương tự như hạng First Class trên máy bay. Có độ rộng ghế ngồi lớn hơn cả ghế Green. Được phục vụ nhiều loại dịch vụ: nước uống miễn phí, đồ ăn nhẹ, đồ uống có cồn. Giá phí của loại ghế này cao nhất, có khi cao hơn 30.000 so với loại ghế tự do.

Sự khác biệt giữa ghế bình thường và ghế hạng sang

Sự khác biệt giữa ghế bình thường và ghế hạng sang

7.1. Tuyến Tokaido Shinkansen

Tuyến tàu điện cao tốc này có 17 điểm dừng, với ga đầu – ga cuối là Tokyo – Shin Osaka. Thời gian di chuyển khoảng 2,5h  đến 4h, tùy theo số lượng ga dừng lại của tàu. Mỗi ngày có 59 chuyến tàu khởi bến từ Tokyo đến Osaka và ngược lại (Từ 6:00 đến 21:20).

Tuyến Tokaido Shinkansen là tuyến vận tải đường sắt có lượng người sử dụng đông nhất Nhật Bản và thế giới.

Có 3 loại giá vé cho tuyến tàu này (đi cả tuyến):

  • Ghế tự do: 13.620 Yên.
  • Ghế chỉ định: 14.450 Yên.
  • Ghế green: 19.230 Yên.

17 điểm dừng của tuyến, khoảng cách so với ga đầu (Tokyo):

  • Tokyo: 0km.
  • Shinagawa: 6.8 km.
  • Shin-Yokohama: 25.5 km.
  • Odawara: 76.7 km.
  • Atami: 95.4 km.
  • Mishima: 111.3 km.
  • Shin-Fuji: 135 km.
  • Shizuoka: 167.4 km.
  • Kakegawa: 211.3 km.
  • Hamamatsu: 238.9 km.
  • Toyohashi: 274.2 km.
  • Mikawa-Anjō: 312.8 km.
  • Nagoya: 342 km.
  • Gifu-Hashima: 367.1 km.
  • Maibara: 408.2 km.
  • Kyoto: 476.3 km.
  • Shin-Ōsaka: 515.4 km.

Bảng giờ xuất phát – giờ đến của các chuyến tàu Shinkansen từ Tokyo – Osaka:

Tên tàuTokyo (Giờ xuất bến)Osaka (Giờ tới bến)
HIKARI- JR-PASS OK!6:269:26
NOZOMI6:439:13
KODAMA- LONG ROUTE6:5610:56
NOZOMI7:009:30
NOZOMI7:209:50
HIKARI- JR-PASS OK!7:3310:33
KODAMA- LONG ROUTE7:5611:56
NOZOMI8:0010:30
NOZOMI8:2010:50
HIKARI- JR-PASS OK!8:3311:33
NOZOMI8:4011:10
KODAMA- LONG ROUTE8:5612:56
NOZOMI9:0011:30
NOZOMI9:2011:50
HIKARI- JR-PASS OK!9:3312:33
NOZOMI9:4012:10
KODAMA- LONG ROUTE9:5613:56
NOZOMI10:0012:30
NOZOMI10:2012:50
HIKARI- JR-PASS OK!10:3313:33
KODAMA- LONG ROUTE10:5614:56
NOZOMI11:0013:30
HIKARI- JR-PASS OK!11:3314:33
KODAMA- LONG ROUTE11:5615:56
NOZOMI12:0014:30
HIKARI- JR-PASS OK!12:3315:33
KODAMA- LONG ROUTE12:5616:56
NOZOMI13:0015:30
HIKARI- JR-PASS OK!13:3316:33
KODAMA- LONG ROUTE13:5617:56
NOZOMI14:0016:30
HIKARI- JR-PASS OK!14:3317:33
KODAMA- LONG ROUTE14:5618:56
NOZOMI15:0017:30
HIKARI- JR-PASS OK!15:3318:33
NOZOMI15:4018:10
KODAMA- LONG ROUTE15:5619:56
NOZOMI16:0018:30
NOZOMI16:2018:50
HIKARI- JR-PASS OK!16:3319:33
NOZOMI16:4019:10
NOZOMI17:0019:30
NOZOMI17:2019:50
HIKARI- JR-PASS OK!17:3320:33
NOZOMI17:4020:10
HIKARI- JR-PASS OK!18:0321:03
NOZOMI18:2020:50
HIKARI- JR-PASS OK!18:3321:33
NOZOMI19:0021:30
HIKARI- JR-PASS OK!19:0322:03
NOZOMI19:2021:50
KODAMA- LONG ROUTE19:2623:26
HIKARI- JR-PASS OK!19:3322:33
NOZOMI20:0022:30
HIKARI- JR-PASS OK!20:0323:03
NOZOMI20:2022:50
NOZOMI21:0023:30
NOZOMI21:1023:50
NOZOMI21:200:00

7.2. Tuyến Sanyo Shinkansen

Tuyến này có 19 điểm dừng chính từ ga đầu – ga cuối (Shin-Osaka – Hakata). Thời gian di chuyển hết khoảng 2,5 giờ, vận tốc tối đa khoảng 300km/h.  Tuyến tàu này vận hành bởi công ty JR Nishinihon.

19 điểm dừng của tuyến:

  • Shin-Ōsaka: 0 km.
  • Shin-Kobe: 36.9 km.
  • Nishi-Akashi: 59.7 km.
  • Himeji: 87.9 km.
  • Aioi: 108.6 km.
  • Okayama: 176.5 km.
  • Shin-Kurashiki: 201.7 km.
  • Fukuyama: 234.8 km.
  • Shin-Onomichi: 254.9 km.
  • Mihara: 266.4 km.
  • Higashi-Hiroshima: 306 km.
  • Hiroshima: 337.8 km.
  • Shin-Iwakuni: 379.2 km.
  • Tokuyama: 426.3 km.
  • Shin-Yamaguchi: 470.6 km.
  • Asa: 505.7 km.
  • Shin-Shimonoseki: 532.3 km.
  • Kokura: 551.3 km.
  • Hakata: 618.5 km.

Giá vé tàu từ Shin-Osaka tới Hakata

  • Ghế tự do: 14.480 Yên.
  • Ghế chỉ định: 14.800 – 15.110 Yên.
  • Ghế Green: 20.960 – 21.270 Yên.

7.3. Tuyến Tohoku Shinkansen

Đây là tuyến tàu điện cao tốc có quãng đường dài nhất Nhật Bản, nối từ Tokyo (ga Tokyo) tới thành phố Aomori (ga Shin-Aomori). Có 23 ga dừng giữa tuyến tàu này, thời gian di chuyển từ ga đầu tới ga cuối khoảng 3 giờ 30 phút.

Tuyến Tohoku Shinkansen được điều hành bởi Công ty đường sắt Đông Nhật Bản (JR East).

23 ga trên tuyến Tohoku Shinkansen

  • Tokyo 0,0 km.
  • Ueno 3,6 km.
  • Ōmiya 31,3 km.
  • Oyama 80,6 km.
  • Utsunomiya 109,0 km.
  • Nasu-Shiobara 152,4 km.
  • Shin-Shirakawa 178,4 km.
  • Kōriyama 213,9 km.
  • Fukushima 255,1 km.
  • Shiroishi-Zaō 286,2 km.
  • Sendai 325,4 km.
  • Furukawa 363,8 km.
  • Kurikoma-Kōgen 385,7 km.
  • Ichinoseki 406,3 km.
  • Mizusawa-Esashi 431,3 km.
  • Kitakami 448,6 km.
  • Shin-Hanamaki 463,1 km.
  • Morioka 496,5 km.
  • Iwate-Numakunai 527,6 km.
  • Ninohe 562,2 km.
  • Hachinohe 593,1 km.
  • Shichinohe-Towada 628,2 km.
  • Shin-Aomori 674,9 km.

Giá vé:

  • Ghế tự do: Không có.
  • Ghế chỉ định: 17.350 Yên.
  • Ghế Green: 21.970 Yên.
  • Ghế Green Class: 27.110 Yên.

7.4. Tuyến Joetsu Shinkansen

Đây là tuyến đường sắt cao tốc nối liền Tokyo với Niigata, được vận hành bởi công ty đường sắt Đông Nhật Bản (JR East). Tổng quãng đường tàu phải đi là 300,8 km, thời gian để đi từ ga đầu – ga cuối hết khoảng 1giờ 40 phút đến 2 giờ 10 phút.

Có 12 ga trên tuyến tàu điện cao tốc này.

  • Tokyo 0,0 km.
  • Ueno 3.6 km.
  • Ōmiya 31,3 km.
  • Kumagaya 67,9 km.
  • Honjō-Waseda 88,0 km.
  • Takasaki 108,6 km.
  • Jōmō-Kōgen 150,4 km.
  • Echigo-Yuzawa 182,7 km.
  • Urasa 212,3 km.
  • Nagaoka 245,1 km.
  • Tsubame-Sanjō 268,7 km.
  • Niigata 300,8 km.

Giá vé:

  • Ghế tự do: 10.050 Yên.
  • Ghế chỉ định: 10.570 Yên.
  • Ghế Green: 14.160 Yên.
  • Ghế Green Class: Không có.

7.5. Tuyến Hokuriku Shinkansen

Tuyến Hokuriku Shinkansen nối Tokyo với Kanazawa (Hokuriku), tổng chiều dài khoảng 454 km.

Gồm có 2 đoạn: Đoạn thứ nhất nối Tokyo với Takasaki có tên gọi cũ Nagano Shinkansen (khánh thành ngày 1/10/1997), đoạn thứ 2 nối Takasaki với Kanazawa (khánh thành ngày 14/3/2015).

Tuyến tàu cao tốc Hokuriku Shinkansen được điều hành bởi JR East – Công ty đường sắt phía Tây Nhật Bản.

Nhật Bản đang tiếp tục xây dựng các tuyến mở rộng của tuyến này tới Fukui, dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2022.

Có 18 ga dừng tại tuyến tàu cao tốc này:

  • Tokyo: 0 km.
  • Ueno: 4 km.
  • Ōmiya: 30.6 km.
  • Kumagaya: 65.1 km.
  • Honjō-Waseda: 85.8 km.
  • Takasaki: 108.6 km.
  • Annaka-Haruna: 127.1 km.
  • Karuizawa: 150.4 km.
  • Sakudaira: 168 km.
  • Ueda: 192.8 km.
  • Nagano: 226 km.
  • Iiyama: 255.9 km.
  • Jōetsumyōkō: 285.5 km.
  • Itoigawa: 322.5 km.
  • Kurobe-Unazukionsen: 361.7 km.
  • Toyama: 395.5 km.
  • Shin-Takaoka: 414.4 km.
  • Kanazawa: 454 km.

Giá vé tuyến Hokuriku Shinkansen:

  • Ghế tự do: 95$ – 130$
  • Ghế chỉ định: 100$-130$
  • Ghế Green: 130$ – 180$.

7.6. Tuyến Kyushu Shinkansen

Tuyến Kyushu Shinkansen nối Fukuoka (ga Hakata) và Kagoshima (ga Kagoshima-Chuo), thuộc đảo Kyushu.

Được điều hành bởi Kyushu JR. Tổng chiều dài toàn tuyến 256.8 km.

Tuyến Kyushu Shinkansen có thể được coi là tuyến kéo dài của Sanyo Shinkansen.

Có 12 ga dừng trên tuyến Kyushu Shinkansen:

  • Hakata: 0 km.
  • Shin-Tosu: 26.3 km.
  • Kurume: 32.0 km.
  • Chikugo-Funagoya: 47.9 km.
  • Shin-Ōmuta: 59.7 km.
  • Shin-Tamana: 76.3 km.
  • Kumamoto: 98.2 km.
  • Shin-Yatsushiro: 130.0 km.
  • Shin-Minamata: 172.8 km.
  • Izumi: 188.8 km.
  • Sendai: 221.5 km.
  • Kagoshima-Chūō: 256.8 km.

Giá vé của tuyến Kyushu Shinkansen (toàn tuyến):

  • Ghế tự do: 60$ – 85$.
  • Ghế chỉ định: 70$ – 85$
  • Ghế Green: 90$ – 120$.

7.7. Tuyến Hokaido Shinkansen

Tuyến tàu cao tốc Hokaido Shinkansen nối tỉnh Aomori (trên đảo Honshu) với vùng Hokkaido qua đường hầm Seikan. Tổng chiều dai toàn tuyến khoảng 360.2 km.

Tuyến Hokaido Shinkansen gồm 2 phần: Phần nối từ ga Shin-Aomori với ga Shin-Hakodate-Hokuto (đã hoạt động từ năm 2016); Phần tiếp theo nối với ga Sapporo (đang xây dựng – dự kiến hoàn thành năm 2030).

Tuyến Hokaido Shinkansen được điều hành bởi JR Hokkaido

Có 9 ga dừng trên tuyến này (gồm cả những ga đang hoạt động, và ga dự kiến)

  • Shin-Aomori: 0.0 km.
  • Okutsugaru-Imabetsu: 38.5 km.
  • Kikonai: 113.3 km.
  • Shin-Hakodate-Hokuto: 148.9 km.
  • Shin-Yakumo: 203.0 km.
  • Oshamambe: 236.1 km.
  • Kutchan: 290.2 km.
  • Shin-Otaru: 328.2 km.
  • Sapporo: 360.2.

Giá vé của tuyến Hokaido Shinkansen (tính đến Shin-Hakodate-Hokuto):

  • Ghế tự do: 40$ – 55$.
  • Ghế chỉ định: 45$ – 60$.
  • Ghế Green: 60$ – 80$.

Vào các thời điểm lễ hội trong năm, các tuyến tàu cao tốc sẽ sắp xếp lịch trình chuyến đi để người tham dự lễ hội được lợi nhất có thể.

Nội dung được nozomi.edu.vn tổng hợp và chia sẻ

Tàu cao tốc Shinkansen – niềm tự hào của Nhật Bản
3.1 (62.14%) 56 votes
Chia sẻ.

Chức năng bình luận đã bị đóng